Canh Dưỡng Sinh

Chương Năm

Làm Thế Nào Ðể Khắc Phục
Bệnh Lẫn Của Người Già

 

1.- Nguyên nhân của bệnh lẫn

Trí năng khi phát triển tới một giới hạn nào đó thì vì bệnh hoạn hay tuổi tác có thể bị suy thoái. Không phải chỉ riêng lý trí, mà tình cảm và cảm giác cũng đồng thời suy thoái theo.

Phần đông chúng ta khi đến tuổi già, về mặt sinh lý, thì dù nhiều dù ít cơ thể và tinh thần cũng đều thoái hóa. Cho nên người già thường hay mau quên và lẫn lộn. Nhưng nếu sự suy thoái này có cường độ mạnh hơn thì người ta bảo là lẫn hay chứng lú lẫn của người già. Chừng đó trí nhớ không còn. Tính phán đoán và mọi lý giải sai biệt. Ngần ấy sự kiện đã làm cho người già trông có vẻ khù khờ hơn trạng thái bình thường lúc còn trẻ.

Ngoài ra chứng lẫn của người già còn do bởi những nguyên nhân xuất phát từ bên ngoài như uống rượu nhiều, sử dụng thuốc men lâu ngày mà không có sự hướng dẫn chín chắn của bác sĩ và dược sĩ, hoặc do ảnh hưởng bởi hậu chứng của bệnh xuất huyết não

Gần đây chứng alzheimer là chứng lẫn trầm trọng của người già càng ngày càng gia tăng trong dân chúng là một vấn nạn lớn cho thế giới. Tuy nhiên các phương pháp và thuốc men để chữa trị hầu đối phó với bệnh tật này cũng gia tăng không ít.

Chứng bệnh này thường xảy ra cho con người trong khoảng tuổi từ ngoài hai mươi cho dến năm mươi. Ðôi khi con người khỏe mạnh nhưng một ngày nào đó tế bào não đột xuất phân hủy. Lý trí bất toàn và chứng lãng quên trầm trọng xuất hiện. Người bệnh không phân biệt được phải trái và có khi đi bộ ra ngoài không nhớ đường trở về nhà.

Tại sao con người về già thường hay mắc phải bệnh tật này? Y khoa thế giới hiện nay vẫn chưa giải đáp nguyên do một cách thỏa đáng. Mà phương thức chữa trị vẫn chưa rõ ràng. Theo tôi thì vấn đề này có thể được giải thích một cách đơn giản như sau. Tế bào thần kinh liên lạc giữa não bộ và tiểu não nửa chừng bị gián đoạn hoặc không còn ăn nhịp với nhau nữa. Khi giải phẫu não bộ, người ta thấy những đường dẫn vi điện trên não bộ cũng vận hành một cách bình thường. Nhưng tại sao con người lại bi bệnh tật bất thường như vậy ? Nguyên do vì tế bào não và tế bào thần kinh hấp thụ nhiều lượng calcium và chất béo động vật. Những chất này cô đọng lại làm cản trở sự truyền sóng. Cho nên chúng sẽ phản ứng lại nên sinh ra bệnh lú lẫn., Trường hợp nặng hơn thì được gọi là bệnh alzheimer.

Thực ra bệnh alzheimer là do hậu quả của việc dùng thuốc men lâu dài. Một số thuốc tuy được bảo là không có hại. Nhưng sử dụng lâu ngày ít nhiều cũng có ảnh hưởng đến sức khỏe. Nhất là những loại thuốc vượng tim và những loại thuốc trị bệnh cao huyết áp. Ðồng thời chúng ta cũng cần lưu ý không nên lạm dụng thuốc hoặc thực phẩm chứa nhiều chất calcium và những loại thực phẩm đặc chế để bồi bổ sức khỏe. Vì vậy khi mua thực phẩm hoặc thuốc men, chúng ta nên đọc kỹ công thức chế biến.

Ngoài ra, nguyên do quan trọng đã gây ra chứng alzheimers là vì có thành kiến sai lầm trong vấn đề dinh dưỡng. Khi cơ thể của người mẹ hấp thụ chất đạm bêta khá nhiều thì có khuynh hướng hạn chế sự phát triển của các tế bào não. Cho nên khi còn ở trong bụng mẹ, mặc dầu bào thai vẫn tiếp tục hình thành về mặt cơ thể và tiếp tục tạo ra các cơ quan ngũ tạng. Nhưng tế bào não ít nhiều vẫn bị tổn thương. Khi ra đời, não bộ của thai nhi vốn đã bị kềm kẹp từ trước, vẫn còn bị ảnh hưởng tai hại. Người ta đã lưu ý khá nhiều bệnh nhân khi mắc bệnh alzheimer thì chất đạm bêta gia tăng nhiều và làm phân hủy các tế bào thần kinh não bộ. Nguyên do chỉ vì sự ăn uống và lạm dụng thuốc men như đã nói ở trên mà ra.

2.- Sữa và thịt đã được biến chế sẵn có thể gây ra chứng lãng quên.

Phần lớn những chất đạm trong thịt động vật, sữa bò và các sản phẩm của sữa bò biến chế có thể làm sai lệch tính miễn dịch của cơ thể và tuổi thọ của con người. Những người chuyên ăn thịt gia súc có thể so sánh tuổi thọ của chúng một năm thì tương đương với tuổi thọ của con người là 5 năm. Tuổi thọ của gia súc 10 năm thì tương đương với tuổi thọ của con người là 50 năm. Hai chục năm thì tương đương với một trăm năm.

Ngày nay có những thiếu niên mới mười mấy tuổi mà tóc đã bạc, bị bệnh cao huyết áp, tiểu đường, thập nhị chỉ tràng và bao tử bị hư loét. Những chứng bệnh trước đây chỉ xuất hiện trong giới cao niên thì ngày nay đa số lại xuất hiện trong giới trẻ tuổi. Có người chỉ mới hai mươi ngoài tuổi đã bị chứng lẫn của người già rồi. Theo tôi chỉ vì những người này ăn quá nhiều thịt động vật và sữa bò trong quá trình phát triển cơ thể và trí não của họ mà thôi.

3.- Chất hóa học có thể gây ra chứng lẫn của người già.

Những người sử dụng trường kỳ các thực phẩm hay thức uống bằng chất hóa học có nguy cơ sớm bị bệnh lú lẫn. Qua các cuộc thí nghiệm trên cơ thể thú vật và trên tử thi của con người, người ta đã phát giác ra thuốc men và hóa phẩm có sự quan hệ mật thiết với trí nhớ. Khi quan sát não bộ của một tử thi, gồm cả mạch máu não và tế bào não thì thấy có các sắc tố của các hợp chất hóa học. Những chất liệu này có nguy cơ làm gián đoạn hay che khuất cơ năng của não, khiến cho sự truyền đạt tin tức bị trở ngại.

Những người nghiện rượu và sử dụng thuốc men lâu dài thường hay có sự phản ứng khi về già là tay chân run rẩy. Thậm chí nó cũng có thể gây ra chứng lú lẫn vì tế bào não đã bị tổn thương bởi những yếu tố ngoại nhập này.

Giải phẫu tử thi của những bệnh nhân chết vì bệnh Alzheimer, sau khi kiểm tra, người ta phát hiện nguyên do đưa đến sự chết chóc phần nhiều do bởi các tế bào não bị tê liệt nên không còn chức năng điều hợp mọi sự vận hành của cơ thể.

Ðể đề phòng chứng lú lẫn và chứng tê liệt thần kinh não bộ, một khi mình có bệnh tật gì chỉ nên dùng thuốc chữa trị bệnh đó mà thôi. Còn những bệnh không phải chủ yếu khác, chúng ta không nên dùng thuốc ngay lập tức và cùng một lúc. Vì thuốc men thường hay có những tác dụng phụ của nó. Cho nên các nước ngoài, họ không xài thuốc một cách dồn dập như cách thức xài thuốc chữa bệnh ở Nhật Bản.

4.- Canh dưỡng sinh chữa được chứng lú lẫn của người già.

Chứng lú lẫn của người già là một loại ác hóa, cho nên người ta phải dùng đến thuốc chữa trị bệnh tinh thần. Ðiều cần nhất không phải chỉ dùng thuốc men, mà phải tận tâm theo dõi bệnh trạng của họ tiến triển như thế nào để giúp họ tiến bộ.

Ngoài ra chúng ta có thể chữa bệnh lú lẫn bằng canh dưỡng sinh. Mỗi ngày bệnh nhân phải uống từ 600 phân khối trở lên. Canh dưỡng sinh hàm chứa một số lượng chất lân khá lớn giúp ích cho tế bào não tăng trưởng, cho nên đối với sự phòng ngừa bệnh lú lẫn và hồi phục chức năng của não bộ rất công hiệu.

Thêm vào đó, thân nhân của bệnh nhân nên úp bàn tay mạnh khỏe của mình lên bàn tay hoặc thân thể của bệnh nhân và trò chuyện với người này mỗi ngày nhiều lần, có thể đến hàng chục lần. Trong khi nói chuyện, mình có thể làm cho bệnh nhân hồi tưởng lại những sự kiện xảy ra trước kia mà ngày nay ký ức không còn ghi nhớ đầy đủ. Tuyệt đối không nên giận dữ với bệnh nhân, không dùng bạo lực và không bao giờ xỉ vả bệnh nhân là đồ ngu ngốc. Chúng ta có thể dắt tay bệnh nhân đi tản bộ, hoặc tự mình rửa tay cho bệnh nhân rồi dùng bàn tay của mình nắm lấy bàn tay phải của họ (giống như nắm tay trong lúc khiêu vũ vậy). Trước khi bệnh nhân cất bước đi bộ, chúng ta bước vội lên trước mặt và quay mình một vòng.

Phương pháp quan trọng để phòng ngừa bệnh lú lẫn là mỗi ngày cho ăn ba bữa đầy đủ với cơm gạo thay vì bánh mì, rồi tập luyện bằng cách đi bộ và cố gắng không nên xài thuốc.

5.- Thường xài máy sưởi ấm phòng cũng có thể gây ra chứng lú lẫn.

Ngày nay phần đông gia đình nào cũng sử dụng máy điều hòa không khí. Ðây là một trong những nguyên do gây ra chứng phong thấp và bệnh lú lẫn. Tại vì cơ thể của con người không thích ứng tự nhiên đối với việc sưởi ấm. Trường hợp này cũng giống như thức ăn sẽ mau bị thiêu khi để ngoài không khí ấm. Không chỉ riêng phần trên đầu, mà toàn thân của con người mỗi ngày cho sống trong phòng lạnh từ -30 đến -40 độ C trong vòng hai hay ba phút thì chứng lú lẫn của người già và chứng phong thấp sẽ không còn tồn tại nữa. Trên thực tế phương pháp trị liệu này đã đạt được nhiều kết quả hữu hiệu. Bất luận thế nào chúng ta cũng phải để cho bộ phận đầu của mình lạnh một chút tốt hơn lúc nào cũng bị tiếp xúc với nhiệt độ nóng.

6.- Sử dụng quý kim gia tăng tỷ lệ bệnh lú lẫn và ung thư vú.

Theo tài liệu kiểm tra từ bệnh viện và cơ quan y tế của chánh phủ Nhật Bản, trong những năm gần đây, tỷ lệ số phụ nữ lớn tuổi bị bệnh lú lẫn gia tăng một cách đáng kể. Cho nên tôi đã làm một cuộc kiểm chứng như sau. Tôi đã chọn ra 140 bệnh nhân, để điều tra về lý lịch bệnh tật quá khứ, thành phần gia tộc và thói quen trong nếp sống hàng ngày. Kết quả tôi được biết phần lớn những bệnh nhân này có quá trình gia tộc như tổ tông, cha mẹ, anh em không có liên hệ gì tới chứng lú lẫn cả. Do đó bệnh lú lẫn của họ không có tánh cách di truyền. Sau một năm trời nghiên cứu, tôi được biết những phụ nữ nào lúc còn thanh xuân hay đeo đồ trang sức, có tỷ lệ làm cho tế bào não bộ bị thoái hóa nhiều hơn. Ở thời kỳ cuối đời, họ thường hay gánh chịu hậu quả bi thương là bệnh lú lẫn.

Những phụ nữ đeo nhiều đồ trang sức so với những người không đeo thường bị những hậu quả như sau:

  1. Ðôi vai đau nhức vì thấp khớp.
  2. Rối loạn thính giác: ù tai, nặng tai hay không nghe được âm thanh nhỏ.
  3. Thị giác bị chướng ngại: thị lực của mắt phải và mắt trái giảm cường độ, đôi khi sanh ra chứng loạn thị, viễn thị hay cận thị. Ðôi khi còn trẻ tuổi nhưng có người đã bị mắt cườm trồi.
  4. Có những người còn trẻ chỉ mới hai mươi ngoài tuổi nhưng đã bị bệnh về sinh lý, mất ngủ, đau lưng, nhức mỏi gân cốt và điều đáng ngại nhất là chứng ung thư vú trong giới phụ nữ tại Nhật Bản gần đây đã gia tăng 70 phần trăm.
  5. Phản ứng và suy nghĩ chậm chạp, trí nhớ kém.
  6. Tính phản xạ của thần kinh kém.
  7. Bệnh mất ngủ, táo bón. cơ thể mất tính đàn hồi, bắp thịt không rắn rỏi.
  8. Tinh thần nhu nhược, không ổn định.

Người đeo nhiều vòng vàng, thân thể thường hay bệnh hoạn, nhưng không rõ bệnh tật gì. Tôi đã từng thực hiện các thí nghiệm sau đây:

Thí nghiệm 1: Ðeo khoen với vàng 3 ca ra vào hai tai của con dơi, nó không thể bay lên được.

Thí nghiệm 2: Ðeo khoen vào tai con chuột, nó chạy vòng vòng chớ không biết phương hướng khác.

Thí nghiệm 3: Ðeo khoen vào con rắn (như đã nói ở các chương trước), con rắn không thể bò thẳng tới, giống như khúc gỗ vậy.

Thí nghiệm 4: Ðeo khoen vào tai hoặc dây chuyền vào cổ con chó hoặc mèo, không bao lâu con vật sẽ chết.

Do những thí nghiệm trên đây, chúng ta thấy rằng các loài động vật sinh sống trong trạng thái thiên nhiên rất nhạy cảm đối với các chất kim loại nên sanh ra các phản ứng tác hại. Cho nên đeo nhiều vòng vàng vào cơ thể không có ích lợi gì cho sức khỏe cả.

Nguyên do vì cơ thể của con người thường phát sinh ra một loại dòng điện rất thấp. Dòng điện này xuyên qua lớp da truyền đạt qua thần kinh, mang những mệnh lệnh phát ra từ não bộ phân phối đi khắp các bộ phận trong cơ thể. Vì thế lớp da đóng vai trò truyền đạt điện từ của thần kinh rất quan trọng. Ðeo nhiều đồ nữ trang sẽ gây cản trở con đường chuyển vận dòng điện nên có thể xảy ra các trường hợp phát điện bất thình lình và tùy thích lúc nào cũng được.

Một khi các tế bào ác tính đang hình thành bướu ung thư, não bộ phát mệnh lệnh cho các bạch huyết cầu và tế bào lành hình chữ T tấn công các tế bào độc đó. Nhưng vì cổ đeo nhiều vòng vàng quá, làm gián đoạn sự truyền lệnh phản công nên thua trận và sinh bệnh. Vì thế những bệnh tật nan y như ung thư vú, ung thư tử cung rất dễ xảy ra cho những phụ nữ thường đeo nhiều đồ trang sức bằng kim loại. Tỷ số các bệnh nhân mắc phải bệnh tật này hàng năm gia tăng gấp hai lần nhiều hơn. Mặt khác những phụ nữ mắc bệnh lú lẫn cũng càng ngày càng gia tăng tỷ số.

Con người thông thường khi quá 25 tuổi, tế bào não mỗi ngày mất đi một trăm ngàn. Khi đeo nhiều nữ trang kim loại, số tế bào não bị hủy hoại tăng gấp 3 lần, có nghĩa là ba trăm ngàn. Ðây cũng là nguyên do dễ dẫn đến chứng lú lẫn của người lớn tuổi.

7.- Canh dưỡng sinh khôi phục bệnh tật của não.

Bệnh tật ở não bộ có rất nhiều loại bao gồm các hậu chứng của chứng xuất huyết não, bướu não, chứng cứng động mạch, nghẽn mạch máu, bệnh tiểu đường gây ra xuất huyết não. Bệnh ở não bộ thường hay sinh ra các tật chứng như nói năng khó khăn, không kềm chế được đại hay tiểu tiện, không kềm chế được sự phát biểu tình cảm như khóc hay cười bất chợt. Trong các trường hợp này, chúng ta sử dụng canh dưỡng sinh và nước gạo lứt rang để điều trị rất có hiệu quả. Bởi vì canh dưỡng sinh có khả năng hình thành và tu sữa các khiếm khuyết của tế bào ở não bộ.

Trước hết mỗi ngày chúng ta uống canh dưỡng sinh và nước gạo lứt rang mỗi thứ từ 600 phân khối trở lên. Uống được ba ngày thì liều lượng có thể bớt xuống. Uống canh dưỡng sinh được một tháng, chúng ta có thể tập bỏ dần các thuốc chữa trị từ từ. Nếu không có phản ứng bất lợi, chúng ta mới bỏ hẳn thuốc uống.

Nếu bệnh ở não bộ gây tê liệt phần nào đó của cơ thể, chúng ta có thể dùng thêm nước gạo lứt rang 600cc mỗi ngày. Sau khi uống được ba ngày thì có thể thử nghiệm xem có nên bớt hay từ bỏ liều lượng của thuốc uống được không. Nếu không có gì phản ứng hay bệnh tái phát thì chúng ta chỉ dùng canh dưỡng sinh không là đủ. Trên thực tế, chưa có loại thuốc nào có khả năng hồi phục bịnh tật của não bộ một cách toàn vẹn.

Ðối với bệnh cao huyết áp, sau khi dùng canh dưỡng sinh, chúng ta có thể giảm dần liều lượng thuốc từ từ chớ không nên ngưng hẳn một cách đột ngột. Tối thiểu uống kèm canh dưỡng sinh được ba tháng mới nên dứt hẳn thuốc chữa bệnh. Ðối với các máy đo huyết áp tự động tân thời sử dụng một cách phổ thông trong gia đình, chúng ta giảm bớt 20 độ ở điểm huyết áp cao và gia tăng thêm 10 độ ở điểm huyết áp thấp mới chính xác.

Các cơ quan tối trọng yếu của cơ thể là não bộ và cột xương sống. Trong trường hợp cột xương sống bị gãy hay vì lý do bệnh tật có thể làm cho bán thân ở phần dưới cơ thể bị tê liệt. Gặp phải như vậy, chúng ta lại càng không nên chữa trị bằng làn sóng điện, châm cứu hay điện từ. Kế đến là chúng ta không nên dùng các loại thuốc vô nghĩa. Thuốc mà trị bệnh nhiều năm không hết bệnh không kể là thuốc được. Nếu dùng thuốc lâu ngày có thể ngăn cản tiến trình hồi phục sức khỏe hơn là chữa lành bệnh. Trong quá trình kinh nghiệm, một bệnh nhân bị thương ở não bộ, bị tê liệt bốn năm liên tiếp, uống canh dưỡng sinh sáu tháng sau có thể đi đứng được. Tiếp tục uống thêm một năm nữa, người bệnh này nói chuyện lại bình thường và có thể tự mặc áo quần một mình, không cần ai trợ giúp. Trong trường hợp này, nếu tiếp tục uống thuốc mà không thay đổi qua cách chữa trị bằng canh dưỡng sinh, tôi nghĩ rằng đương sự sẽ không bao giờ lành bệnh được hoàn toàn và mau chóng như vậy. Theo ý tôi những loại thuốc trị bệnh quá lâu năm không bình phục được thì không nên tiếp tụv dùng mãi.

Những bệnh nhân ở não bộ, sau khi giải phẫu xong được đặt ống dẫn bằng chất liệu nhân tạo. Uống canh dưỡng sinh và nước gạo lứt rang được ba ngày, tế bào não sinh sôi nẩy nở có thể xâm nhập vào ống dẫn này. Tốt hơn hết nên lấy nó ra trước. Uống canh dưỡng sinh được sáu tháng, não bộ sẽ khôi phục bình thường. Ngoài ra những người bị bại liệt vì lý do ở não bộ, điều cần nhất là làm sao cho họ hồi phục lại cử động. Cho nên trong tiến trình lành bệnh, phải tập cho họ có lòng tự tin và cố gắng. Cho nên nếu họ có té mà đứng dậy không nổi thì để cho họ tự phấn đấu ngồi dậy mà không cần đỡ họ. Một khi họ đã tự mình dứng hay ngồi dậy được rồi thì họ lại càng tự tin và tự chủ hơn nên bệnh sẽ mau bình phục hơn. Sự nâng đỡ hoài hoài cho bệnh nhân tê liệt xét ra không phải là một phương pháp tốt. Hãy để cho họ tự phấn đấu trước rồi mới phụ giúp sau thì công hiệu sẽ tiến bộ một cách thực tế và rõ rệt. Chúng ta không nên hấp tấp vì dục tốc bất đạt mà phải tuân thủ theo các hướng dẫn sau:

Bệnh nhân muốn gì không nên chìu theo nấy.

Không nên giận dữ với bệnh nhân.

Phải theo dõi bịnh trạng của bệnh nhân mỗi ngày để coi có sự thay đổi gì không ?

Dùng trái banh nhỏ cho bệnh nhân luyện tập cử động của bàn tay.

Tập cử động chân, cổ chân và đầu gối.

Ngoài giấc ngủ cần thiết ra, không nên cho bệnh nhân ngủ và nghỉ ngơi nhiều. Khuyến khích họ hoạt động về thể lực nhiều hơn.

Những người bị xuất huyết não, nếu cần phải giải phẫu, nên thực hiện trong vòng 8 tiếng đồng hồ thì sự thành công có tỷ suất cao và những dị tật của hậu giải phẫu thấp. Vì thế tôi đề nghị trong ngày chủ nhật hay trong các ngày nghỉ lễ, các bệnh viện nên có y sĩ chuyên khoa trực nhật để giải quyết những trường hợp khẩn cấp được kịp thời và nhanh chóng.